Bùi Minh Cương
San Jose, 6/24/93
Trong bài này, tôi xin giới thiệu về nhóm Nghiên Cứu Tiêu Chuẩn Tiếng Việt (Vietnamese Standardization Group), gọi tắt là Viet-Std, và nhóm phát triển nhu liệu TriChlor, cánh tay phải của Viet-Std trong mục đích thử nghiệm cung cấp, và quảng bá nhu liệu dùng tiêu chuẩn do Viet-Std phát hành.
Trước khi giới thiệu hai nhóm xin được phép trình bày qua về hệ thống liên lạc điện tử đã liên kết những chuyên viên VN đồng chí hướng lại với nhau từ khắp nơi trên thế giới: hệ thống điện tử Liên Lưới Internet, và nhóm tin của người Việt truyền đi trên hệ thống Internet: diễn đàn Viet-Net và hậu thân của nó, nhóm tin (newsgroup) Soc.Culture.Vietnamese.
Hiện nay, hệ thống liên lưới Internet trải rộng khắp Hoa Kỳ và trên những quốc gia kỹ nghệ trên khắp thế giới, từ Nhật, Ðại Hàn, Singapore, đến Tây Âu, Úc, Gia nã đại, và gần đây nhất những quốc gia Ðông Âu. Hệ thống này nối liền đại đa số những trường đại học, những công ty to nhỏ khắp nơi, những cơ sở nghiên cứu hiện đại nhất, và những cơ sở liên bang của Hoa Kỳ. Ðiện thư (email), hồ sơ (files) và tin tức được truyền đi trong vòng vài phút và nhiều khi có thể liên lạc một cách thực thời (real time).
Hệ thống Internet là hậu thân của một màng lưới thí nghiệm của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cách đây 20 năm, tên là ARPAnet, với mục đích nguyên thủy là tạo dựng một màng lưới liên lạc tin cậy ngay cả khi một phần của mạng lưới bị phá hủy.
Hệ thống này được vẽ kiểu để những máy điện toán với tương đối ít khả năng có thể liên lạc được. Ðể gửi đi một tin tức, máy điện toán từ nơi gửi chỉ cần gói bọc dữ kiện vào một phong bì điện tử gọi là Gói Liên Lưới, và "đề địa chỉ" đúng theo Giao Ước Liên Lưới (Internet Protocol), gọi tắt là IP. Những máy điện toán khác khi nhận được gói tin này, sẽ biết cách truyền đi cho đến khi máy điện toán nhận nhận được.
Cách đây mười năm, với sự phát triển của hệ thống lưới Ethernet dùng để nối liền các máy điện toán trong phạm vi gần (Local Area Network), và sự phát triển của những máy điện toán dùng cho việc làm (workstation), nhu cầu nối liền những mạng lưới nhỏ này càng gia tăng. Các cơ sở nghiên cứu muốn nối liền các máy điện toán nhỏ này với hệ thống lưới ARPAnet thay vì chỉ đi qua một máy lớn chính tại cơ sở họ. Vì các máy nhỏ cũng dùng cùng một cách thức truyền tin là IP, việc nối liền những mạng lưới này trở thành thực tiễn. Một trong những mạng lưới mới với tầm vóc rất quan trọng là lưới NSFNET, điều hành bởi Cơ Sở Khoa Học Quốc Gia (National Science Foundation), một cơ quan của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, gọi tắt là NSF. Vào khoảng cuối thập niên 80, NSF dựng lên 5 Trung Tâm Siêu Ðiện Toán rải rác trên toàn quốc để các trung tâm nghiên cứu có thể dùng máy siêu điện toán (supercomputer) trong những công trình nghiên cứu khoa học. Tưởng cũng nên nhắc lại là trước đó, chỉ những cơ sở nghiên cứu và sáng chế vũ khí và một vài nghiên cứu gia ở các công ty rất lớn mới có máy siêu điện toán để dùng. Ðể đáp ứng nhu cầu, NSF thiết lập mạng lưới riêng nối liền phần lớn các trường đại học lớn với các Trung Tâm Siêu Ðiện Toán này, dựa trên kỹ thuật đã được thử nghiệm bởi ARPAnet: giao ước chuyển tin liên lưới IP. Cho đến ngày nay, hệ thống Liên Lưới Internet nối liền nhiều mạng lưới như NSFNET, NASAnet, và hàng trăm mạng lưới khác, và đã trở thành một màng lưới chuyển tin vĩ đại, với một đặc tính chung là tất cả đều dùng giao ước liên lưới IP để chuyển tin. Ngoài ra, còn có các lưới tư nhân lớn khác như Decnet, Bitnet, MCI, SNAnet của IBM, cũng nối với Internet, mặc dù không dùng IP nhưng đi qua những cơ phận dịch để chuyển thành IP, và do đó liên lạc được với Internet.
Hệ thống Internet không có chủ tịch, phó chủ tịch hay lãnh đạo. Tháng Giêng 1992, một bộ phận điều hợp gọi là Hội Liên Lưới (Internet Society), gọi tắt là ISOC, do những thành viên xung phong đứng ra điều hành, mục đích chính là tạo dựng một môi trường truyền thông thế giới, dựa trên kỹ thuật Internet. Hội này chỉ định một hội đồng cao cấp (elders), với bổn phận là giám đốc và chỉ đạo cho Internet. Hội đồng cao cấp (elders) bao gồm những thành viên được mời, danh xưng là Internet Architechure Board. IAB họp thường xuyên để phê chuẩn những đề nghị về chuẩn, và phân phối tài nguyên như số địa chỉ (số địa chỉ mỗi máy điện toán có riêng để liên lạc). IAB được yểm trợ bởi hai nhóm thiện nguyện là Internet Enginêring Task Force và Internet Research Task Force với mục đích giải quyết những vấn đề hiện hành và nghiên cứu kỹ thuật cho việc điều hành và phát triển Internet.
Không ai trả tiền cho Internet. Thật ra mỗi mạng lưới nối với Internet có ngân khoản riêng của ho NSFNET trả tiền cho mạng NSF, NASA trả tiền cho NASA Science Internet. Các công ty trả tiền cho những cơ sở chuyên nối với Internet ở địa phương. Tất cả các công việc bảo trì, đổi mới đều do các mạng lưới riêng tự lo liệu. Những mạng lưới riêng có cơ sở điều hành riêng, và những cơ sở này liên lạc với nhau để bảo đảm việc vận hành hoàn hảo.
Chính phủ liên bang tài trợ một phần lớn những mạng lưới lớn quan trọng như NSFnet, DDN. Một chỉ tiêu quan trọng trong việc tài trợ là để hỗ trợ cho việc nghiên cứu và giáo dục, do đó phần lớn các dữ kiện được chuyển qua những lưới này không được mang tính cách thương mại. Những công ty thương mại phải trả phí tổn cao hơn để nối với Internet.
Theo ước lược hiện thời, căn cứ vào số địa chỉ đã được phân phối (khoảng 1.5 triệu), thì có ít nhất khoảng 4-6 triệu người. Ngoài ra không kể những lưới lớn mại không nằm trực tiếp trên Internet như MCI, Bitnet, SNA,... Ða số biết dùng máy điện toán, bao gồm những thành phần chuyên môn từ các công ty, các sinh viên, giảng sư và nghiên cứu gia từ các trường đại học, và những khoa học gia từ các cơ sở nghiên cứu. Internet được dùng để chuyển điện thư liên lạc (email), hoán chuyển các hồ sơ (files) hay nhu liệu (software) bằng Giao Ước Chuyển Hồ Sơ (Files Transfer Protocol) (FTP), hay sử dụng những máy điện toán ở xa (remote login) với TELNET... Có thể nói một khi có nối với Internet, là có thể sở hữu một kho tàng dữ liệu khổng lồ thượng vàng hạ cám, từ khí tượng đến lịch sử, âm nhạc, văn chương, toán học, v.v., ngay cả đến tình dục.
Một trong những khối dữ kiện luân lưu hàng ngày trên Internet là USENET news, những nhóm tin.
Những nhóm tin (newsgroup) gồm có các trao đổi của những người cùng chung một sở thích, từ khoa học đến xã hội, góp chung lại thành một khối và luân lưu chuyển đi từ máy điện toán này sang máy điện toán khác. Có tất cả khoảng 1500 nhóm tin, và lưu lượng hàng ngày lên đến 10 triệu Bytes, khoảng 300 trang sách. Có 7 bảng tin chính: comp (điện toán), news (điều hành của net news), rec (giải trí), sci (khoa học), soc (xã hội), talk (thảo luận), misc (linh tinh). Ngoài ra còn có bản tin ngoài lề như alt (cách khác), gnu (nhu liệu miễn phí)...
Người Việt liên lạc qua bảng tin soc, nhóm tin soc.culture.vietnamese.
Đến đây, chúng ta có thể thấy sự thành hình của Viet-Net và SCV. Từ khi các công ty hay các trường đại học có hệ thống lưới và điện thư riêng, người Việt bắt đầu liên lạc với nhau, thường là cá nhân. Dần dần, khi điện thư có thể chuyển ra ngoài đi đến các trường khác và các công ty khác qua sự hình thành của mạng lưới Internet, hệ thống thư từ càng được nới rộng. Và bắt đầu hình thành một diễn đàn gồm những người chưa từng quen biết.
Vào mùa hè 1988 (8/1988), Dũng Trung, sinh viên tại Boston University, quen qua email với Nguyễn Thiều, sinh viên tại University of California at Irvine (UCI). Hai người mới nẩy ra ý định thiết lập một hệ thống liên lạc với nhau qua email cho người Việt Nam, có tên gọi là Viet-Net hay Vietnamese Network network của người Việt Nam. Khi danh sách Viet-Net càng ngày càng đông, công việc trông coi Net được chia ra cho các địa phương, với sự đóng góp của nhiều người tình nguyện, trong đó có Dũng Trung (Boston University), Thiều Nguyễn (UCI), Nhân Trần (Florida), Trí Bùi (Northern Cali), Viet-Anh (MIT), và nhiều người khác...
Khởi đầu, danh sách thành viên Viet-Net được phát triển qua sự quen biết cá nhân, hay tìm được một email nào đó có vẻ Việt Nam, những người này được giới thiệu về Viet-Net và mời vào. Khi Viet-Net được phổ thông thì mọi người nghe danh và tự tìm đến với Viet-Net.
Trước Viet-Net đã có những mailing list cho người Việt Nam nhưng với tính cách cục bộ trong một công ty nào đó hay có tính cách địa phương. Viet-Net là mailing list đầu tiên liên kết mọi người Việt bất luận nơi đâu bằng email. Khi Viet-net lên quá 400 người gần 500 thì vấn đề cai quản điều hành không xuể nữa. Lúc ấy mới có đề nghị tạo lập nhóm tin Soc.Culture.Vietnamese. Sự tạo lập nhóm tin này thành công cũng do nhiều phiếu tán thành của mọi người Việt trong các công ty. Sau đó, Viet-Net đã trở thành SCV vào đầu năm 1992, và chỉ còn lại một số đầu cầu nhỏ để chuyển tin từ SCV bằng điện thư cho những người không có Netnews.
Viet-Net cũng đã được Hội Giáo Dục và Phát Triển Việt Miên Lào trao tặng giải thưởng hạng nhì năm 1990, qua thành quả nhịp cầu liên lạc với các chuyên gia và sinh viên Việt Nam.
Hiện thời, SCV được tự động chuyển đi bởi USENET đến các nơi có nhận USENET news, và ước lượng độc giả Việt Nam lên đến 20,000 người trên khắp thế giới. Ðã có những cuộc nhân duyên, những cuộc tình, và những cuộc hôn nhân qua sự truyền thông của Viet-Net/SCV. Và cũng có những cuộc thảo luận hứng thú cũng như những chửi rủa thậm tệ! Kể từ ngày thành lập, trao đổi trên Viet-Net/SCV được chia ra làm nhiều tiết mục: chính trị, khoa học, văn chương, tin tức. Ðã có nhiều cuộc gây quỹ cho người tỵ nạn, cứu trợ trẻ em không cha mẹ. Có những bài thơ thật hay từ các lưới viên (netter), hay những bài thơ, văn tiền chiến được đăng lên. Những bài vở viết cho báo Xuân, đặc san. Những thảo luận chính trị, kể cả tuyên truyền. Hiện nay VN cũng ý thức được tầm quan trọng của mạng lưới và độc giả, nên đã có những tranh luận, tuyên truyền nẩy lửa.
Với các mạch liên lạc điện thư sẵn có, vấn đề thứ nhì cần giải quyết là làm sao gửi đi tiếng Việt. Các thành viên Viet-Net lại một lần nữa nghĩ ra cách chuyển tiếng Việt một cách dễ đọc, dùng những mẫu chữ có sẵn trên bàn điện toán. Ví dụ để đánh chữ má, chữ ma' với dấu ngoặc đơn được dùng, hay để đánh chữ mả, dấu hỏi thường được dùng ngay bên cạnh chữ a (ma?). Tóm lại, dùng những dấu tương tự để bỏ dấu cho dễ đọc và dễ nhớ trên màn ảnh máy điện toán. Chẳng hạn:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
viết thành là
Tra(m na(m trong co~i ngu+o+`i ta
Chu+~ ta`i chu+~ me^.nh khe'o la` ghe't nhau
Trong giai đoạn này, trước 1990, phần lớn các nhu liệu dùng tiếng Việt chỉ có trong máy điện toán cá nhân, và phải dùng môi trường riêng, nhu liệu riêng. Nhu cầu để viết và đọc tiếng Việt tự nhiên trên các giàn máy Unix cũng như DOS trở thành cần thiết. Các nhu liệu tiếng Việt trên thị trường PC đều mỗi người dùng một mã khác nhau, và phần lớn không chú trọng về vấn đề hội nhập với môi trường điện toán hiện hữu. Nhận thức được điều này, một số chuyên gia VN kết hợp lại với nhau để tìm cách thống nhất hóa bảng mã VN. Họ lập ra một chuỗi thư (mailing list) riêng, và bàn thảo về vấn đệ Những thành viên đầu tiên gồm có Thành Nguyễn (Sun), Randall Atkinson (U. of Virginia), Nhân Trần (Florida), Khoa Tôn (HP), Khiêm Hồ (HP), Cường Nguyễn (Stanford), Tước Lương (Borland) và nhiều người nữa. Ðây là bước hình thành của nhóm Viet-Std, (Vietnamese Standardization Group), nhóm nghiên cứu tiêu chuẩn tiếng Việt, kết hợp lại cuối năm 1989. Một số không nhỏ các thành viên của Viet-Std là những khoa học gia với văn bằng tiến sĩ. Ðến đầu năm 1991, với sự ra đời của Unicode, một liên đoàn công ty với mục đích mã hóa tất cả các ngôn ngữ trên thế giới dùng 16 bit cho tất cả các loại máy điện toán. Lúc bấy giờ, Unicode định mã hóa chữ VN dùng phương pháp chữ rời, ví dụ mã hóa chữ á gồm hai chữ a và '. Ðiều này rất bất lợi cho tiếng Việt, vì choán nhiều chỗ và khó khăn cho việc xử lý (processing). Lúc này SCV cũng đã bắt đầu thành hình và hiện hữu song song với Viet-Net. Các chuyên viên VN phát giác được điều này, và đã đem ra báo động trên diễn đàn Viet-Net và SCV, và thêm nhiều người gia nhập Viet-Std để tìm cách đối phó, trong đó có Cương Bùi (National Semiconductor), Học Ngô (NASA), Hùng Hồ (USC)...
Tưởng cũng nên thêm chi tiết là với 16 bit, tổng số các mẫu tự có thể dùng là khoảng 64.000, trong số đó đã có gần 30.000 dùng cho Hán tự cho các nước Nhật, Trung Hoa, Ðại Hàn, trong khi đó VN cần 134 mẫu tự, nhưng Unicode nhất định không cho, chỉ cho dùng 44 mẫu tự dựng sẵn đã có do sự trùng hợp với mẫu tự Latin của các nước Âu Châu (à, è, é, đ...), 90 mẫu tự còn lại phải dùng phương pháp ghép. Trong khi đó, các công ty lớn của Nhật, hay những vĩ nhân của Trung Hoa đều được cho phép thêm mẫu tự rời riêng. Thêm vào đó, các nước tân tiến Âu Châu đều được dùng mẫu tự rời. Ví dụ chữ è của Pháp được mã hóa rời, trong khi đó chữ ẹ của VN phải dùng đến hai mẫu tự ghép lại (e và .).
Các thành viên Viet-Std tìm cách thay đổi thái độ của Unicode trên nhiều phương diện:
Tranh luận trên diễn đàn điện thư của Unicode về ưu khuyết điểm chữ rời. Ðồng thời liên kết và lôi kéo về phía mình những chuyên gia Hoa Kỳ, và công kích sự bất công khi những chữ Pháp tương tự được mã hóa rời, mà chữ VN bị mã hóa ghép.
Trong thời gian này, có 3 người Việt là Ngô Thanh Nhàn, James Ðỗ và Nguyễn Hoàng, cũng có mặt trên Viet-Std list, lại đi tán thành và khuyến khích việc làm của Unicode. Họ cũng đã về VN để khuyến dụ VN dùng phương pháp chữ ghép trong môi trường 8-bit. Phương pháp và việc làm này bị nhóm Viet-Std đả kích và phê bình mãnh liệt.
Khoảng mùa Hè năm 1991, trước sự chống đối của Viet-Std và cộng đồng chuyên gia và sinh viên VN trong SCV và Viet-Net, đồng thời với sự kết hợp giữa Unicode và tiêu chuẩn 10646 của ISO (International Stardardization Organization), Unicode đồng ý mã hóa chữ Việt với phương pháp chữ rời. Ðây là một thành công lớn của Viet-Std, với ảnh hưởng lâu dài cho tương lai điện toán của VN về sau. Khi các khiển hệ và nhu liệu bắt đầu chuyển sang 16 bit, chữ Việt sẽ dùng được tự nhiên và dễ dàng như chữ Mỹ, mà chúng ta không phải tốn thêm công sức nào cả. Tiếp theo đó, nhóm Viet-Std tiếp tục bàn thảo gay go về cách mã hóa chữ rời trong môi trường 8-bit, làm cách nào để có thể hội nhập được với phần lớn những khiển hệ (Unix, DOS, Windows) hiện thời. Ðầu tháng 7 năm 1991, nhân dịp thử nghiệm hội nhập thành công của nhu liệu vietterm do Cương Bùi biến chế, nhóm TriChlor đã được thành lập để thử nghiệm, đào tạo và phổ biến nhu liệu để quảng bá và tiến tới một bộ mã tiêu chuẩn chung. Ba thành viên sáng lập TriChlor gồm có Cương Bùi, Cường Nguyễn và Tín Lê. Sau này, thêm các thành viên tích cực nữa như Châu Vũ, Hòa Nguyễn, Học Ngô, Hùng Hồ, Quân Trần, và Vượng Nguyễn, một số cũng đều thành viên của Viet-Std. Ðầu tháng Giêng 1992, qua sự kiên trì và góp sức của Cương Bùi, Cường Nguyễn, Học Ngô và Khoa Tôn, nhóm Viet-Std chính thức đề nghị tiêu chuẩn VISCII cho môi trường 8 bit, đồng thời nhóm TriChlor cũng phát hành một loạt những nhu liệu căn bản cho Unix và DOS. Tất cả các nhu liệu đều miễn phí, và có một đặc điểm là nhu liệu căn bản, có thể dùng với phần lớn những nhu liệu Hoa Kỳ phổ thông có sẵn, do đó người dùng không phải học lại, và người Việt có thể dùng kho tàng nhu liệu có sẵn hiện hành, không cần phải viết lại.
Ðến tháng 6-1992, VISCII được cải tiến thêm, đồng thời TriChlor phát hành thêm nhu liệu tiếng Việt đầu tiên dùng được với Windows 3.1, và TrueType fonts.
Cho đến nay, Viet-Std và TriChlor tiếp tục đẩy mạnh việc phổ biến nhu liệu miễn phí, cũng như đào tạo những ứng dụng thích thú, trong số đó có thi tập điện tử của các thi sĩ như Quang Dũng, Nguyễn Bính, Chinh Phụ Ngâm, Tiền Chiến, Xuân Diệu, hay những tập nhạc những bản nhạc VN từ tiền chiến đến giờ, đến những chương trình để in, để xét lỗi chính tả, để xếp thứ tự chữ Việt... Trong dịp Tết Quý Dậu vừa qua, nhiều đặc san sinh viên đã được ấn hành bằng nhu liệu TriChlor, đồng thời các anh em sinh viên và các tổ chức thiện nguyện cũng góp phần phân phối nhu liệu trong các chợ Tết địa phương. Hiện nay, đã có nhiều cá nhân tiếp sức với TriChlor trên nhiều lãnh vực như vẽ kiểu chữ (nhóm vnfonts), thi tập mới... Dự án kế tiếp gồm có chương trình multimedia, nói tiếng Việt (text to speech), karaoke...
Nhóm Viet-Std cũng được thêm sự tiếp sức từ các thành viên mới như Hải Trần, Diệu-Thanh Trần, từ các hội đoàn khác như nhóm Góp Lửa, VPS (Vietnamese Professional Society) Hội Chuyên Gia Việt Nam, hội nhân viên VN hãng ATT, hãng IBM... Nhóm Viet-Std cũng đã trình dự án trong một buổi hội thảo về ngôn ngữ Ðông Phương ở Georgetown University, cũng như đã trình bày tiêu chuẩn và nhu liệu tiếng Việt cho công ty IBM, và hội chuyên gia Việt Nam. Ngoài ra, Viet-Std đã làm việc với bộ phận Internet Engineering Task Force để đề nghị và đăng ký tiêu chuẩn chuyển điện thư tiếng Việt qua dạng 7-bit VIQR và 8-bit VISCII. Trong thời gian gần đây, Viet-Std và TriChlor đã được tiếp xúc và phỏng vấn bởi báo San Jose Mercury News và hệ thống truyền hình CNN về công việc đã làm.
Ðể liên lạc với Viet-Std:
Ðiện thư: viet-std@haydn.stanford.edu
Ðiện hình thư (fax): 408-246-9532
Bưu điện: Viet-Std
1212 Somerset Drive
San Jose, CA 95132
Ðể liên lạc với TriChlor:
Ðiện thư: trichlor@haydn.stanford.edu
Ðiện hình thư (fax): 408-246-9532
Bưu điện: TriChlor
3388 Burgundy Drive
San Jose, CA 95132
Nếu muốn nhu liệu DOS/Windows, gửi $5.00 về địa chỉ trên, chi phiếu xin đề cho Cuong T Nguyen, thủ quỹ tạm thời.
Ở đây xin giới hạn câu trả lời cho mặt cá nhân. Có nhiều cách thức để nối với Internet. Nếu một người đang đi làm, họ có thể hỏi với người quản trị hệ thống điện toán ở công ty họ (system administration). Có thể công ty họ đã có sẵn đường nối, chỉ cần biết cách sử dụng mà thôi.
Nếu là sinh viên, thì cơ hội nối với Internet càng cao, vì phần lớn các trường đại học đều ở trên hệ thống Internet. Hoặc họ có thể ghi danh học một vài lớp để có trương mục (account) trong hệ thống máy ở trường và sử dụng điện thư cũng như đọc tin Usenet.
Nếu có máy điện toán ở nhà, và có thẻ truyền tin qua đường dây điện thoại (modem), họ có thể nối với những công ty có dịch vụ nối, những bảng tin (bulletin boards) thương mại hoặc miễn phí. Chi phí thường thường là từ miễn phí đến 20, 30 đô la một tháng, và thường chỉ cung cấp một số dịch vụ thông thường như điện thư và đọc tin Usenet.
Một vài công ty chuyên về dịch vụ này gồm có Netcom (408-554-8649), Portal (408-973-9111), PSI (703-620-6651), SprintLink (703-904-2156), Ưnet(703-204-8000).
Ngoài ra, những công ty chuyên về viễn thông đại chúng như Prodigy, AmericaOnline, MCI Mail, CompuServe... cũng có những lưới riêng, và có thể gửi và nhận điện thư từ Internet.
Khi đã có nối với Internet, họ có thể hoặc đọc tin từ nhóm tin soc.culture.vietnamese. Tưởng cũng nên nhắc lại là hệ thống SCV là xương sống chính, những đầu cầu Viet-Net bây giờ chỉ còn là trạm chuyển thư để gửi tin từ SCV đi qua dạng điện thư.
Nếu không đọc được Usenet, mà chỉ có thể nhận điện thư, họ có thể xin các trạm chuyển thư này gửi tin SCV đến cho họ bằng điện thư. Ðể làm việc này, gửi một điện thư đến một trong các địa chỉ sau, với đầu đề của thư là SIGN-ON:
scv-request@haydn.stanford.edu
scv-request@media.mit.edu
Lưu lượng trung bình mỗi ngày trên SCV là từ 100 đến 200 lá thư, do đó rất dễ làm tràn đầy hộp thư nếu không đọc kịp!
Vài hàng về người viết:
Bùi Minh Cương, tốt nghiệp cử nhân điện tại University of Wisconsin, Madison 1980. Hiện là kỹ sư cho hãng National Semiconductor, chuyên về vẽ kiểu tự động (Design Automation). Thành viên sáng lập của nhóm nhu liệu TriChlor, thành viên của Viet-Std. Tác giả của một số các nhu liệu tiếng Việt căn bản trên Unix, DOS, và Windows. Tác giả của tủ sách thi tập điện tử đầu tiên gồm các thi tập Quang Dũng, Nguyễn Bính, Chinh Phụ Ngâm và Tiền Chiến. Ðồng tác giả cho các tiêu chuẩn tiếng Việt của Viet-Std.
Ðịa chỉ liên lạc:
Cuong Bui
c/o TriChlor Software
3388 Burgundy Dr.
San Jose, CA 95132
(408) 721-6873
Email: bui@berlioz.nsc.com