Thơ bảy chữ |
||||||||||||||
Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1,
3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi! Long lanh tiếng sỏi vang vang hận: Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người Xuân Diệu Nhiều khi không lại như thế: Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc, Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Hàn Mặc Tử Cách gieo vần 1. Vần tréo (thường dùng) Nhiều khi trong thi đoạn bốn câu, chỉ cần hai tiếng bình ở cuối câu hai và bốn vần với nhau, hai tiếng trắc cuối câu một và ba không cần: Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn, Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ! Một hôm trận gió tình yêu lại: Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ. Huy Cận Ta về cúi mái đầu sương điểm Nghe nặng từ tâm lượng đất trời Cảm ơn hoa đã vì ta nở Thế giới vui từ mỗi lẻ loi Tô Thùy Yên 2. Vần ba tiếng bằng (thường dùng) Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong, Hôm xưa em đến, mắt như lòng, Nở bừng ánh sáng. Em đi đến, Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng. Huy Cận Dĩ vãng nào xanh như mắt em? Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm! Hàng mi khuê các chìm sương phủ Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm. Đinh Hùng Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì Quang Dũng |
Thi
Luật Lục Bát Song Thất Lục Bát Bốn chữ Năm chữ Sáu chữ Bảy chữ Tám chữ |